“Tự do hàng hải” hay “Tự do đi lại”?

 

>> Asean và Trung Quốc Bắt Đầu Đồng Ý về Một Bản Dự Thảo Duy Nhất cho Bộ Quy Tắc Ứng Xử ở Biển Đông (COC)

 

Hà Hiển

Mỹ tiếp tục tiến hành các hoạt động tự do đi lại ở Biển Đông (Hình: Internet)

Lâu nay, sách báo tiếng Việt, kể cả các văn kiện ngoại giao của Nhà nước thường đề cập đến cụm từ “tự do hàng hải” khi trích dẫn các quan điểm của Mỹ về vấn đề Biển Đông, ví dụ:

“ Hoa Kỳ cam kết mạnh mẽ đối với tự do hàng hải trên biển Đông và tự do thương mại” (Lao Động online 5/3/3018)

“Mỹ khẳng định tiếp tục các hoạt động tự do hàng hải ở Biển Đông” (Tin Túc online 30/5/2018)

v.v ….

Bộ Luật Hàng hải Việt Nam quy định về các “hoạt động hàng hải” trong một phạm vi khá rộng, bao gồm không chỉ “về tàu biển, thuyền viên” mà còn liên quan đến “cảng biển, luồng hàng hải, cảng cạn, vận tải biển, an toàn hàng hải, an ninh hàng hải, bảo vệ môi trường, quản lý nhà nước về hàng hải và các hoạt động khác liên quan đến việc sử dụng tàu biển vào mục đích kinh tế, văn hóa, xã hội, thể thao, công vụ và nghiên cứu khoa học” (Điều 1 – Phạm vi Điều chỉnh – Bộ Luật HHVN – 2015).

Các “hoạt động hàng hải” được quy định trong Bộ Luật HHVN kể trên có nghĩa khá tương đồng với nghĩa của từ “maritime” trong tiếng Anh như được ghi trong các từ điển giải nghĩa của Anh là “connected with human activities at sea” hoặc “connected with the sea “– tức là “có liên quan đến hoạt động của con người trên biển” hoặc “có liên quan đến biển”.

Trong thực tế, khi chuyển ngữ chữ “hàng hải” sang tiếng Anh trong các văn bản chính thức thì chúng ta cũng dùng từ “maritime” này (ví dụ Trường Đại học Hàng hải của ta có tên tiếng Anh là “Maritime University of Vietnam” hay Bộ Luật HHVN được dịch sang tiếng Anh là “Maritime Code of Vietnam”).

Nếu vậy thì khái niệm “tự do hàng hải” ứng với các “hoạt động hàng hải” được xác định theo Bộ Luật HHVN nếu chuyển ngữ sang tiếng Anh thì phải là “freedom of maritime activities” hoặc “freedom of (all) human activities at sea” thì mới là tương đồng về nghĩa.

Nhưng đến đây thì chúng ta phát hiện ra rằng trong các tuyên bố của Mỹ hay trong các văn kiện liên quan đến Biển Đông như DOC nếu căn cứ theo bản gốc tiếng Anh đều không có cụm từ nào là “freedom of maritime activities” hoặc “freedom of (all) human activities at sea” mà chỉ có cụm từ “freedom of navigation”

Từ đấy dễ dàng đoán được tất cả văn bản tiếng Việt, trong đó có tuyên bố ngoại giao hay những văn kiện chính thức của Nhà nước Việt Nam về vấn đề Biển Đông đều dịch cụm từ “freedom of navigation” này sang tiếng Việt là “tự do hàng hải”.

Đây là một lỗi dịch thuật rất nghiêm trọng và không thể chấp nhận được vì nó phản ánh không đúng quan điểm của Mỹ cũng như quan điểm của các nước có liên quan thể hiện trong Tuyên bố của các bên về ứng xử ở Biển Đông (DOC)…, vì theo từ điển Oxford thì “navigation” có nghĩa là “the movement of ships or aircraft” (tạm dịch là “sự di chuyển của tàu thủy hoặc máy bay”). Như vậy “freedom of navigation” chỉ có nghĩa “tự do đi lại trên biển hoặc trên không” chứ không bao gồm tự do trong tất cả các hoạt động hàng hải.

Trong các tuyên bố quốc tế, Mỹ chỉ cam kết bảo vệ và tôn trọng “the right of freedom of navigation” – tức là cam kết bảo vệ và tôn trọng “quyền tự do đi lại” (trên Biển Đông, bao gồm cả trên biển và trên không – HH).

Nói rằng Mỹ cam kết bảo vệ và tôn trọng quyền “tự do hàng hải” một cách chung chung là “lắp chữ vào miệng” Mỹ. Vì tôi đố các bạn tìm ra câu nào Mỹ nói về “freedom of maritime activities” hay tương tự như thế.

Nhưng cũng may là Mỹ không nói thế ! 🙂

Nếu Mỹ tuyên bố tôn trọng “tự do hàng hải” (freedom of maritime activities) một cách chung chung như thế thì hẳn là Trung Quốc sẽ hoan nghênh nhiệt liệt, vì chữ “hàng hải” theo phạm vi như được hiểu trong Bộ Luật HHVN cũng như theo nghĩa của từ tiếng Anh tương đương là “martime” sẽ có thể bao trùm cả các hoạt động bất hợp pháp mà Trung Quốc hiện đang tiến hành ở Biển Đông.

Tóm lại, “freedom of navigation” không phải là “tự do hàng hải” mà là “tự do đi lại”, và cũng không chỉ là “tự do đi lại trên biển” mà cả “tự do đi lại trên không” nữa [*].

HH

————————————————–

[*] Nếu diễn đạt chặt chẽ hơn nữa thì cụm từ “freedom of navigation” phải được dịch là “tự do đi lại bằng đường biển và đường không”, vì cụm từ “đi lại trên biển” trong tiếng Việt chưa bao gồm hết mọi hình thức đi lại (movement) ở biển (at sea) khi mà vẫn còn hình thức đi lại ngầm dưới biển nữa.

 

One Response to “Tự do hàng hải” hay “Tự do đi lại”?

  1. Pingback: “Navigation at sea” và “Hành hải” | Hahien's Blog

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this: