Chuyện kể về Cụ Ký Phương – Kỳ cuối: Những Bông Cúc Vàng

 

>> Chuyện kể về Cụ Ký Phương – Kỳ 1: Học sinh Trường Bưởi
>> Chuyện kể về Cụ Ký Phương – Kỳ 2: Nam tiến
>> Chuyện kể về Cụ Ký Phương – Kỳ 3: Hải Phòng và những câu chuyện tình…
>> Chuyện kể về Cụ Ký Phương – Kỳ 4: Hàng xóm trở thành thông gia
>> Chuyện kể về Cụ Ký Phương – Kỳ 5: ‘Lên chức’ Ông Ngoại

 

… Cúc Trang không ở đất làng
Cúc Trang trong mộng lang thang khắp trời
Mỗi trang một đóa vàng mười
Mỗi dòng một cánh nhớ Người Cúc Trang

(Thơ Anh Năm)

 

Hà Hiển

hoacuc_doaSau khi đi tản cư một thời gian tại Thái Bình, bố mẹ và các anh tôi lại dắt díu nhau hồi cư về lại thành phố Hải Phòng. Lúc này, ngoài Anh Cả, gia đình tôi đã có thêm Anh Hai và Anh Ba. Đó là vào năm 1950. Cả nhà lại tiếp tục sống chung cùng Ông Bà Ngoại tại 192 Phố Trại Cau. Một năm sau, mẹ sinh tiếp Anh Tư. Bố tôi lúc này xin được công việc làm thư ký tại Sở Kinh tế Miền Bể thuộc chính quyền Bảo Đại. Kể từ đó cho đến nhiều năm sau, một mình bố đi làm vẫn đủ sức nuôi được cả gia đình riêng của mình.

Ông Ngoại vẫn còn đi làm tại cái hãng vận tải ấymột thời gian ngắn nữa. Sau đó, vì sức khỏe của Ông ngày càng kém đi và nhiều lý do khác dẫn đến Ông phải nghỉ việc.

Do không còn việc làm nên kinh tế của Ông Bà Ký Phương ngày càng khó khăn, nhu cầu thuốc phiện của Ông do đó cũng không thể được đáp ứng ở mức độ như trước. Nhiều lúc Ông rất thèm thuốc nhưng trong túi chẳng có một xu. Bà thì càng ngày giấu tiền càng kỹ, tuy thỉnh thoảng thương tình cũng cho Ông vài đồng lẻ. Những lúc ấy Ông lại dắt theo Anh Cả, lúc đó đã khoảng 7- 8 tuổi, đi hút thuốc phiện.

Trong một lần như thế, có một chuyện dở cười dở khóc xảy ra. Buổi chiều muộn hôm ấy khi Ông đến tiệm hút thì các bàn đèn đều đã có người nên Ông phải ra ngoài chờ. Trong khi hai ông cháu ngồi nghỉ tạm tại ghế đá ở vườn hoa gần đấy thì có một lão già ăn mặc rách rưới đến kêu đói quá vì cả ngày chưa có gì vào bụng. Lão năn nỉ Ông xin vài đồng để mua cái gì đó ăn tạm. Ông không đành lòng nên cuối cùng cho lão cả số tiền định dùng để hút thuốc phiện ấy, số tiền mà để Ông xin được ở Bà thật không dễ dàng chút nào!

Tiệm thuốc phiện ấy là chỗ quen biết nên họ sẵn lòng cho Ông hút trước, trả sau mỗi khi ông không chịu được cơn nghiện mà chưa có tiền. Sau khi đợi khách trong tiệm ra bớt, Ông dắt Anh Cả theo vào xin hút chịu. Đang hút thì Ông thấy lão già ăn xin lúc nãy cũng lò dò vào tiệm rồi đến nằm hút ngay sát bên cạnh! Chẳng biết lão có nhận ra Ông không vì khi thấy Ông thì lão cứ tỉnh queo như chưa từng gặp mặt bao giờ!

Ngã Tư An Dương ngày xưa, rất gầnvới  ngôi nhà Ông Bà Ngoại tôi thuê,  và cũng là nơi Ông sống những ngày cuối đời trước khi mất

Ngã Tư An Dương ngày xưa, rất gần với ngôi nhà Ông Bà Ngoại thuê, và cũng là nơi Ông sống những ngày cuối đời trước khi mất (Ảnh: Internet)

Thời gian trôi đi. Cuộc sống ngày càng khó khăn hơn. Số tiền mà Ông gửi Bà khi Ông còn đi làm cứ hao hụt dần mà không có nguồn thu nào. Để có tiền chi tiêu, Ông Bà phải bán căn nhà ở 192 Trại Cau rồi thuê nhà ở chỗ khác nhỏ hơn ở gần Ngã Tư An Dương (nay là phố Trần Nguyên Hãn) để ở, còn bố mẹ tôi thì dắt các con đi thuê nhà ở riêng.

Do chán nản vì không có thu nhập, phải sống phụ thuộc vào vợ, tinh thần và sức lực của Ông ngày càng sa sút hẳn.

Trong thời gian này, có một tai nạn bất ngờ xảy đến với Ông. Một buổi sáng khi Ông đang ngồi uống cà phê trên vỉa hè đường Cát Dài thì một chiếc xe hơi nhà binh mất phanh lao lên, ép Ông vào sát tường, khiến Ông bị gãy chân. Trước đấy, Ông bắt đầu cũng đã có dấu hiệu của bệnh lao.Tất cả những điều đó khiến cho sức khỏe của Ông ngày càng xấu đi trông thấy và cuối cùng, điều đau buồn nhất cũng đã xảy ra. – Đó là sự ra đi mãi mãi của Ông.

Hôm ấy là ngày 1/4 Âm Lịch của năm Giáp Ngọ 1954. Ông tôi được an táng tại nghĩa trang thuộc Chùa Hàng tại xã Dư Hàng Kênh, nay thuộc Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, hưởng thọ 58 tuổi.

Tất nhiên, mẹ tôi là người đau buồn nhất. Người cha nào cũng thường đặc biệt cưng chiều con gái, huống chi mẹ lại là con gái duy nhất của Ông. Tình thương yêu mà cha mình giành cho từ những ngày còn thơ bé luôn luôn sâu đậm trong tâm trí mẹ.

Cũng xin được nói thêm là mẹ tôi không hợp tính với Bà Ngoại lắm nếu không nói là có mặt xung khắc. Không có anh chị em ruột để chia sẻ, sự ra đi của Ông Ngoại, vì thế, là một cú sốc rất lớn cho mẹ tôi.

Trong những thời gian sau này được sống gần mẹ, tôi thường được bà kể cho nghe nhiều chuyện về người cha yêu quý của mình. Chính vì thế mà tôi mới có thể ghi lại ở đây những dòng này hôm nay. Tiếc rằng hồi ấy tôi còn bé quá nên không thể nhớ hết được nhiều chi tiết, và cũng có thể chưa ý thức được nhiều điều mà mẹ muốn gửi gắm hay truyền đạt lại.

Kể từ đó, mẹ luôn giữ tấm ảnh của Ông bên mình như là một báu vật bất ly thân. Trong chiếc hòm nhỏ mà đi đến đâu mẹ cũng mang theo luôn có một vài tập thơ viết tay của mẹ và tấm ảnh của Ông, để rồi ở mỗi nơi tạm cư nào đó, mẹ tôi cũng có thể hương khói cho Ông vào ngày 1/4 Âm Lịch hàng năm.

Trong thời gian chiến tranh, bố mẹ tôi sơ tán mỗi người một nơi về nông thôn để tránh bom. Tôi đi sơ tán theo mẹ một thời gian và chứng kiến nơi mẹ đặt ảnh Ông để thắp hương chỉ là một cái giá gỗ thô sơ đặt ở vị trí cao nhất có thể, trên đó có khi chỉ là chén nước thanh thủy với một nén hương nhưng hầu như không bao giờ thiếu những cánh hoa Cúc vàng.

Sau này khi đọc bài thơ “Hoa Cúc” của mẹ, tôi mới hiểu vì sao trên cái “ban thờ” ấy luôn có những bông Cúc vàng như thế và tại sao trên bia mộ của Ông Ngoại, ngoài dòng chữ ghi họ tên đầy đủ vẫn còn có một dòng ghi tên hiệu của Ông là Cúc Trang…

Có lẽ vì Ông rất thích hoa Cúc. Khi còn sống, Người vẫn ước ao có một vườn hoa Cúc của riêng mình. Nhưng đó là một giấc mộng không thành…

Trong Bài thơ “Hoa Cúc” của mẹ, có những câu như sau:

Chùa Dư Hàng (Hải Phòng) - nơi an nghỉ của ông ngoại tôi

Chùa Hàng (Hải Phòng) – Nơi an nghỉ của Ông Ngoại

Chạnh nhớ người xưa yêu hoa vàng
Mộng lòng xây đắp một hoa trang
Sống với tình yêu và hạnh phúc
Giữa một vườn hoa đẹp rỡ ràng

Giấc mộng hoàng hoa đã lỡ rồi
Từng cánh hoa vàng lớp lớp rơi
Mái tóc đôi màu sương nhuốm bạc
Mà mộng than ôi, mộng suốt đời

Gió lộng, mây tan, mấy nẻo trời
Mối buồn thu ấy biết bao nguôi
Mỗi bận thu về tôi những muốn
Pha bình trà Cúc gửi cha tôi.

Đoạn kết

Hôm nay, khi tôi đang viết những dòng này, thì cả cái gia đình con con gồm 3 thành viên vào đầu thế kỷ trước ấy đều không còn một ai trên cuộc đời này nữa. Gần 30 năm sau khi Ông Ngoại mất, Bà Ngoại tôi cũng về với tổ tiên. Còn mẹ thì cũng đã thành người thiên cổ cách đây 15 năm rồi.

Nhưng đến giờ phút này, cái gia đình con con xưa kia ấy cũng đã để lại cho đời một đàn con, cháu, chắt, chút ngoại với gần 50 người, trong đó có các anh chị em chúng tôi, chưa kể dâu rể…

Điều mẹ tôi lúc còn sống luôn băn khoăn day dứt là việc hương khói cho Ông Bà Ngoại sau này thế nào sau khi mẹ cũng theo Ông Bà ra đi, khi mà Ông Bà không có đứa cháu đích tôn nào mang họ Nguyễn. Cũng vì thế mà mẹ đã từng có ý chọn một trong những anh em trai chúng tôi để đặt cho họ Nguyễn của nhà ngoại, để giao việc hương khói cho Ông Bà Ngoại sau này.

Người mà ban đầu mẹ tôi có ý như thế chính là người đang viết những dòng này.

Nhưng có lẽ do bố tôi không bằng lòng, hoặc vì mẹ nghĩ tôi sinh sau đẻ muộn không có kỷ niệm gì sâu sắc với Ông Ngoại, hay vì lý do nào khác, cuối cùng bà bỏ ý định đó.

Tôi cũng nghe nói sau đó mẹ tôi có ý hướng cho Anh Cả nhiệm vụ này với lý do hồi bé Anh Cả được Ông Ngoại chăm bẵm, yêu thương nhiều nhất, có nhiều kỷ niệm với Ông nhất. Nhưng rồi việc này cũng không thành vì Anh Cả lâm bạo bệnh rồi mất sớm.

Sau đó, Anh Hai tôi cũng có thể là ứng cử viên thích hợp, ngoài lý do sau khi Anh Cả ra đi, Anh Hai trở thành lớn nhất thì trong thời gian đi học anh cũng được hưởng tiền trợ cấp của Bà, cũng là lộc của Ông để lại, mặc dù đó chỉ là lý do thứ yếu. Nhưng Anh Hai phải bôn ba lưu lạc xứ người nên điều kiện có lẽ không cho phép anh làm tốt nhất điều ấy mặc dù ở nơi xa anh cũng luôn thắp hương tưởng nhớ đến Ông Bà, Cha Mẹ mỗi khi đến ngày cúng giỗ.

Cuối cùng dường như mẹ đã giao việc ấy cho Anh Tư tôi. Có lẽ có rất nhiều lý do hợp tình hợp lý để chọn Anh Tư làm việc này. Đó là trong số các anh em trai chúng tôi, Anh Tư là người duy nhất còn ở Hải Phòng, nhà rất gần nghĩa trang Chùa Hàng là nơi Ông tôi đang an nghỉ. Nhà anh rộng rãi, khang trang nhất, lại có vườn hoa, cây trái mát mẻ. Chị dâu Tư lại là người rất chăm lo đến việc thờ cúng tổ tiên. Đó là chưa nói đến lý do rất chính đáng là Anh Tư cũng là người kế thừa nhiều nhất những gien nổi trội của Ông, từ hình thể vóc dáng, gương mặt cho đến sự… kính vợ mà Ông Ngoại đã di truyền lại.

Thực tế nhiều năm qua cũng cho thấy mẹ tôi đã không chọn nhầm người. Anh chị Tư đã và đang thực hiện đầy đủ trọng trách này.

Nhưng dù được mẹ chọn hay không, tôi hiểu là từ trong thẳm sâu tâm thức, anh chị em chúng tôi không bao giờ quên Ông Ngoại, dù chỉ là những câu chuyện nghe mẹ kể lại như tôi. Hàng năm, vào mỗi dịp Thanh Minh hay Tết Nguyên Đán, chúng tôi dù ở đâu cũng chẳng bao giờ quên về lại Hải Phòng đến viếng thăm mộ Ông Bà.

Và dường như hương hồn mẹ tôi vẫn cứ luôn hiện về nhắc anh em chúng tôi về Ông Ngoại.  Dường như điều ấy cứ không nguôi thôi thúc, xui khiến để đến hôm nay có một người cháu ngoại mà Ông chưa hề biết mặt là tôi, viết ra những dòng này…

HHMùa Hè 2015

(Rút trong tập chuyện gia đình: “Những mái nhà tuổi thơ”)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: