Tại sao lại “Đói giỗ Cha, no ba ngày Tết”?

 

>> Nhớ bếp tranh ngày Tết

 

Hoàng Tuấn Công
Theo Tuấn Công Thư Phòng

V_m_y_bay_T_t_i_Thanh_H_a_gi_r_Tục ngữ Việt Nam có câu: “Đói giỗ Cha, no ba ngày Tết”. Cái ý “No ba ngày Tết” thì hầu như ai cũng hiểu. Tuy nhiên vấn đề khó hiểu và gây tranh cãi tại sao lại “đói giỗ cha” hoặc “đói ngày giỗ cha”?

Mục “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” (Báo Lao Động Chủ nhật-2012) bài “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết” của PGS.TS Phạm Văn Tình (Viện từ điển học và bác khoa thư Việt Nam) nêu tình huống cụ thể ông từng gặp:

“Thưa thầy, lớp chúng em vẫn tranh luận với nhau về ý nghĩa của câu tục ngữ đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết. Tranh luận nhiều nhưng mỗi người một ý. Em có đem câu này về nhà hỏi bố mẹ thì bố em cũng chịu. Bố em còn bảo: “Ông nội của con mất đã lâu, giỗ nhiều lần rồi nhưng con cái chưa phải chịu đói bao giờ cả”. Đây có phải là một câu nói cho vui không ạ?”. Đó là lời của bạn Trần Thu Thảo – lớp trưởng lớp Văn (2008-2011), Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội – hỏi tôi (nhân một sinh hoạt khoa học cuối năm có mời tôi làm báo cáo viên chính).

Không riêng gì bạn Trần Thu Thảo, thú thực, bản thân tôi nhiều lúc cũng không rõ nguyên do từ đâu dẫn đến câu tục ngữ này. Hầu hết các sách sưu tầm văn hoá dân gian chỉ thống kê chứ chưa giải thích kỹ câu đó (trừ một số câu khá đặc biệt). Đầu năm 2010, khi cuốn “Từ điển tục ngữ Việt” (Nguyễn Đức Dương, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2010) xuất bản, tôi vội vã tra ngay. Mục từ này được giải thích như sau: “Hay bị đói là vào dịp giỗ cha (vì đâu còn lúc nào mà nghĩ tới chuyện ăn trong khi đang mải lo chuyện cúng giỗ); hay được ăn no là vào ba ngày Tết (vì đó là một thông lệ vốn có tự ngàn xưa)”. Cách cắt nghĩa như vậy cũng thật chưa rõ ý.”

Thực ra cách giải thích của Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương mà PGS.TS Phạm Văn Tình dẫn đã được “Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam” (Vũ Dung-Vũ Thúy Anh-Vũ Quang Hào-tái bản lần thứ 4-NXB Văn hóa-2000) đưa ra trước đó 15 năm: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết:Một phong tục của dân khi xưa…Những ngày giỗ bố mẹ, con cái phải làm cỗ mời bà con họ hàng. Người kéo đến ăn thường đông hơn số người được mời. Người lớn lại đem theo cả trẻ con. Có những người khách không mời mà đến. Bởi vậy, chủ nhà có khi phải nhịn miệng mà thết khách cho vui lòng khách. Trong ba ngày tết, dù nghèo đói, nhà nào cũng cố phải có cỗ bàn, bánh trái, nhất là bánh chưng. Tới nhà nào chủ nhà cũng mời ăn.”

Như vậy, theo ý PGS.TS Phạm Văn Tình, Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương giải thích đúng, nhưng “chưa thật rõ ý”. Để “rõ ý” hơn, PGS.TS Phạm Văn Tình đã làm cuộc “điền dã”, đi “hỏi các cụ cao niên ở nhiều nơi tôi qua (Đông Cứu, Gia Lương, Hà Bắc; Yên Xá, Ý Yên, Nam Định; Quỳnh Côi, Quỳnh Phụ, Thái Bình…)…thì biết rõ một điều: Phong tục cúng giỗ ngày xưa (ở một số vùng Việt Nam) khá khắt khe. Giỗ song thân phụ mẫu là giỗ trọng (nhất là ba năm đầu, chưa hết tang). Vào ngày giỗ, con cháu phải theo tang chế (mặc đồ tang, con gái đội khăn xô, con trai đội nùn rơm, chống gậy), đứng trước bàn thờ cha (mẹ) từ sáng sớm. Con trai trưởng phải thường xuyên túc trực, theo dõi đèn nhang và cung kính đáp lễ mỗi khi có khách vào thắp hương tưởng nhớ người quá cố. Việc tiếp đón, mời cơm khách do người nhà gia chủ lo liệu, các con (nhất là con trai) phải nghiêm chỉnh thực hiện nghi lễ bên bàn thờ cho đến khi người khách cuối cùng (đến chia sẻ, ăn uống) chào ra về.

Tất tả chuẩn bị từ mấy ngày trước, lại phải tập trung lo lắng cho ngày chính giỗ, nên hầu như con cái  nhà có đám ít được ăn uống chu đáo. Đấy là chưa nói, còn một số nơi bắt con cái phải nhập phép “tịnh cốc” (không được ăn mặn hay các loại ngũ cốc, chỉ uống nước lã đun sôi) để tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ trong ngày này. Nhiều người con, cha mẹ mới mất, vì vẫn còn nhớ thương sầu thảm, cũng chẳng có bụng dạ nào mà ăn uống cả. Vậy thì dù là ngày giỗ cha, có mâm cao cỗ đầy thật đấy, nhưng chuyện họ phải mang bụng đói trong ngày này là điều có thực và cũng là điều hoàn toàn dễ hiểu.”

Cách khảo sát, lý giải của PGS.TS Phạm Văn Tình công phu, cặn kẽ hơn cả “Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam” của Nhóm Vũ Dung. Tuy nhiên theo tôi, ý dân gian trong câu tục ngữ đang xét nói chuyện “đói” (do thiếu đói, không có gì để ăn), chứ không nói chuyện “đói” trong khi mâm cao cỗ đầy mà không có thời gian để ăn như cách lý giải của PGS. TS Phạm Văn Tình và Nhóm Vũ Dung. Càng không phải “hay đói là vào dịp giỗ cha” như Nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương giảng giải. Vì chẳng có ở đâu phong tục làm giỗ cha lại theo quy luật như thế. Giỗ cha là dịp lễ trọng (Trâu bò được ngày phá đỗ, con cháu được bữa giỗ ông – tục ngữ). Nếu “đói vì mải lo chuyện cúng giỗ” thì cúng xong cũng phải được ăn chứ? Tục ngữ có câu “Trước cúng cha sau va vô miệng” cơ mà? (Chữ va [không phải và] có tính chất hài hước, ý chỉ con cháu ăn uống thực sự sau khi cúng giỗ).  Giả sử có nhịn miệng đãi khách thì chủ ngồi tiếp, khách ăn ba, chủ nhà ít nhất cũng phải ăn một mới phải phép. Nếu nhịn hoàn toàn, ngồi nhìn khách ăn, khách nào dám gắp? Nếu là bận bịu, kể cả trong lúc “tang gia bối rối” chuyện đói có chăng cũng chỉ tạm thời mà thôi!

Theo tôi, câu tục ngữ “Đói giỗ cha, no ba ngày Tết” được hiểu như sau: Ngày giỗ cha rất quan trọng, nhưng không dứt khoát phải cỗ bàn thịnh soạn. Gặp năm mùa màng thất bát, đói kém, chiến tranh, loạn lạc… thì ngày giỗ cha có khi chỉ có nén hương, chén nước, bát cơm, quả trứng gọi là “cúng cáo”, nhớ ngày kỵ. Như thế không có gì là trái đạo lý. Bởi tín ngưỡng thờ cúng của người Việt không câu nệ mâm cao cỗ đầy, “Bắt thiếu giỗ, không ai bắt cỗ lưng”. (Các cụ có thể “chước” đi cho). Thế nhưng ba ngày Tết lại là chuyện khác. Người ta có thể túng thiếu, quanh năm nhịn đói, nhịn thèm, nhưng ba ngày Tết cũng phải chạy vạy bằng được để ít nhất không được ăn ngon cũng phải ăn no, hoặc có gì đó khác ngày thường. (Có câu “Giàu hay nghèo, ngày ba mươi Tết thịt treo trong nhà”, hay “Đói cho chết, ngày Tết cũng phải no”). Ngày Tết được ăn ngon, ăn no, mặc đẹp, vui vẻ, nhàn hạ thì hy vọng cả năm cũng sẽ được như vậy. Bởi thế, Tết đến người ta không chỉ ăn cho no bụng mà còn ăn để lấy may cả năm. Trong câu tục ngữ “Đói giỗ cha no ba ngày Tết” dân gian đưa ra ngày rất quan trọng (giỗ cha) để so sánh, khẳng định một ngày khác còn quan trọng hơn nhiều: Tết là ngày quan trọng nhất trong tất cả những dịp lễ quan trọng trong năm; Có thể bị đói vào ngày giỗ cha nhưng ba ngày Tết dứt khoát phải được no. Tết không chỉ ý nghĩa với người sống mà còn với cả ông bà, tổ tiên. Kẻ ăn mày đến ngày giỗ cha có khi không có gì để cúng, nhưng Tết đến cũng phải cố tìm cách có được bữa tươm tất, no bụng. Không ai muốn (và không thể) “khất” được cái Tết. Không thể nhịn đói nằm co khi cả đất trời, thiên hạ đều náo nức đón Tết, vui Xuân. Đó chính là sự đặc biệt của cái Tết, đặc biệt hơn tất cả những ngày đặc biệt trong năm. Nếu hiểu “đói ngày giỗ cha” “mải lo chuyện cúng giỗ” hoặc phải làm phép “tịnh cốc” , “nhịn miệng đãi khách”, số “người kéo đến ăn thường đông hơn số người được mời”  nên bị đói, sẽ sai bản chất vấn đề và không ăn nhập với ý nghĩa của “no ba ngày Tết”.

Ta còn gặp cách nói “đói giỗ cha” của dân gian trong câu “Cha chết không lo bằng gái to trong nhà”. Thực tế “cha chết” là đại tang, việc lớn lắm! (Có câu “Khóc như cha chết” cơ mà!) Thế mà dân gian lại đem so sánh và cho rằng không bằng chuyện “gái to trong nhà”. “Gái to” là gì? Là gái lớn, gái đã đến tuổi lấy chồng. Thủ pháp này cũng nhằm gửi đến một thông điệp, kinh nghiệm: có con gái lớn đến tuổi lập gia đình là nỗi lo lắng lớn, (ví như lo quá lứa lỡ thì, lo chẳng may “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”, chửa hoang, tai tiếng, làng phạt vạ…) Sẽ là việc làm khá hài hước nếu chúng ta thắc mắc và cố đi tìm nguyên nhân tại sao, ở đâu lại có phong tục coi thường việc “cha chết” như vậy. Hay câu “Đau mắt không bắt giắt răng”. Đau mắt, mắt nhặm, kèm nhèm rất khó chịu! Thế nên dân gian chọn ngay “kiểu đau” này đặt trong mối tương quan, so sánh với “giắt răng” để nhấn mạnh: Đau mắt đã khó chịu rồi, giắt răng còn khó chịu hơn! (thức ăn hoặc dị vật giắt vào răng tuy không đau nhưng khó chịu vô cùng!) Hoặc câu“Lễ cả năm không bằng rằm tháng Giêng”, cách nói này cũng là nhằm nhấn mạnh để mọi người ghi nhớ Rằm tháng Giêng rất quan trọng.

Có thể nói “Đói giỗ cha, no ba ngày Tết” (hay “Cha chết không lo bằng gái to trong nhà”; “Đau mắt không bằng giắt răng”; “Lễ cả năm không bằng rằm tháng Giêng”) là những câu tục ngữ mà ý nghĩa, thông điệp chính của nó nằm ở vế thứ hai của câu chứ không phải ở vế đầu. Bởi vậy không nên băn khuăn, cố đi tìm nghĩa đen và cách lý giải nội dung vế đầu (chỉ đóng vai trò là thủ pháp nghệ thuật là chính).

 “Đói giỗ cha, no ba ngày Tết”! Hàng ngàn năm qua, bất kể “thanh bình yên vui hay chiến tranh khốn khổ”… mỗi năm một lần, cái Tết cổ truyền Việt Nam vẫn đến rạo rực, tươi mới như mùa Xuân đất trời, thắp sáng niềm hy vọng vào ngày mai trong lòng muôn người, muôn nhà…bất kể sang giàu hay nghèo khó…

Áp Tết Ất Mùi 2015

HTC

Advertisements

One Response to Tại sao lại “Đói giỗ Cha, no ba ngày Tết”?

  1. Ánh Dương says:

    Dân gian còn có câu “Cha chung không ai khóc” biết đâu cũng có chút liên quan đến “ngày giỗ cha bị đói”, tức là cha bị đói?

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: