Công ước Vienna 1978 và Công hàm Phạm Văn Đồng – Đôi điều bàn thêm cùng các tác giả Tạ Văn Tài và Vũ Quang Việt

 

Hà Hiển

chpvdTrên trang bauxite vừa có bài viết của các tác giả Tạ Văn TàiVũ Quang Việt nhan đề Công ước Kế tục Quốc gia của Liên Hiệp Quốc không đòi hỏi thừa kế các hiệp định liên quan đến lãnh thổ.

Theo các tác giả bài viết này thì Liên hiệp quốc đã ban hành một công ước mà các tác giả dịch sang tiếng Việt là Công ước Kế tục Quốc gia đối với Hiệp ước 1978 ( sau đây xin được gọi tắt là Công ước 1978 – nguyên văn tiếng Anh: Vienna Convention on Succession of States in respect of Treaties 1978), mà căn cứ theo đó “các quốc gia kế tục không phải thừa kế các hiệp ước liên quan đến chủ quyền lãnh thổ quốc gia mà quốc gia trước đó đã ký nếu nó không muốn”. Và từ lập luận này, các tác giả đi đến kết luận Công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi thủ tướng Chu Ân Lai ngày 14 tháng 9 năm 1958 là không có giá trị (nếu Việt Nam muốn – HH nhấn mạnh).

Trước hết, phải nói rằng việc các học giả cố gắng tìm hiểu thêm các văn bản quy phạm quốc tế có liên quan và bỏ nhiều công sức để phân tích nhằm tìm cách hóa giải hay hạn chế những tác hại, nếu có, của “Công hàm PVĐ” là một điều rất đáng trân trọng và khích lệ. Và với tất cả sự trân trọng ấy, xin được bàn góp thêm mấy ý sau:

1) Đối tượng điều chỉnh của Công ước 1978 – Công hàm có được coi là Hiệp ước?

Đối tượng điều chỉnh của Công ước 1978 – như thể hiện ngay trong cái tên của nó – là các Hiệp ước (Treaties) giữa các quốc gia và Công ước này cũng có  điều khoản định nghĩa riêng về thuật ngữ này.

Vấn đề là Công hàm PVĐ có được coi là “Hiệp ước” – tức là đối tượng điều chỉnh của  Công ước 1978 hay không.

Các tác giả đã “lôi” nó vào phạm vi điều chỉnh của Công ước này với suy luận “dù nó là hiệp ước đi nữa thì vẫn có quyền không kế thừa” để không bận tâm vào việc phải giải thích nó có phải là “hiệp ước” hay không. Câu hỏi được đặt ra ở đây là thế thì nếu nó KHÔNG PHẢI là “hiệp ước” thì sao? Có thể hiểu hàm ý của các tác giả rằng “hiệp ước” là thứ văn bản có tính ràng buộc cao nhất mà còn có thể bác bỏ được thì mọi thứ  văn bản khác có tính “phi-hiệp-ước”, (hẳn là) ít có tính ràng buộc hơn các “hiệp ước” thì càng không có chút giá trị gì. Suy luận này không phải không có lý và rất đáng phải được xem xét nhưng nếu có thêm các lập luận mang tính pháp lý chặt chẽ hơn thì sẽ tốt hơn.

Liệu có thể “lý sự” thêm bằng một câu hỏi thế này chăng: ngoài Công ước Vienna 1978 về việc kế tục Quốc gia thông qua các Hiệp ước, còn có công ước hay các văn bản quy phạm có tính quốc tế nào khác quy định về việc kế tục này bằng các hình thức văn bản “phi-hiệp-ước hay không?  Nếu câu trả lời là không thì liệu  có thể  suy luận đơn giản rằng vì quốc tế không công nhận bất kỳ việc kế tục giữa các quốc gia  bằng những thứ không phải Hiệp ước (như  các loại công thư, công hàm…) nên dĩ nhiên là nó cũng sẽ không có những văn bản pháp lý để điều chỉnh những chuyện không được công nhận đó?

Còn nếu chẳng may cũng có những quy phạm hay tập quán quốc tế về tính pháp lý của các loại văn bản khác như  “công hàm” hay “công thư” liên quan đến việc kế tục quyền lợi hay trách nhiệm của các quốc gia thì những lập luận trực tiếp căn cứ trên các quy phạm hay tập quán này sẽ có giá trị khi nói về các loại văn bản này hơn bất kỳ “suy luận ngoài văn bản” nào.

Vì không phải là chuyên gia về công pháp quốc tế nên tôi chỉ đặt ra các giả thuyết như vậy. Rất mong được những người hiểu biết hơn về lĩnh vực này đóng góp thêm ý kiến.

2. Các tác giả mắc “lỗi đánh máy” khi bàn đến Điều 9.1:

Về Điều 9.1 của Công ước 1978, các tác giả cho rằng nó “nhấn mạnh nguyên tắc không thừa kế trong trường hợp Quốc gia trước đó (predecessor) tuyên bố đơn phương kế thừa”  căn cứ trên văn bản tiếng Anh mà các tác giả dẫn ra như sau:

Article 9.1 Obligations or rights of a predecessor state under treaties in force in respect of a territory at the date of a succession of States do not become the obligations or rights of the successor State or of other Sates parties to those treaties by reason only of the fact that  predecessor Sate has made a unilateral declaration providing for the continuation in force of the treaties in respect of its territories.

Người viết bài này kiểm tra lại bản gốc tiếng Anh theo đường link đã dẫn trong bài viết của các tác giả thì đoạn này lại được viết là:

Article 9.1 Obligations or rights of a predecessor state under treaties in force in respect of a territory at the date of a succession of States do not become the obligations or rights of the successor State or of other Sates parties to those treaties by reason only of the fact that  successor Sate has made a unilateral declaration providing for the continuation in force of the treaties in respect of its territories.

(Điểm khác biệt duy nhất nhưng lại quan trọng nhất giữa văn bản gốc và văn bản được trích dẫn sai là các chữ in đậm ở trên)

Nếu căn cứ theo bản gốc này thì Điều 9.1 của Công ước 1978 nhấn mạnh nguyên tắc không thừa kế ngay cả trong trường hợp Quốc gia kế tục (successor ) – chứ không phải Quốc gia trước đó (predecessor) như phân tích dựa trên lỗi đánh máy của các tác giả Tạ Văn tài và Vũ Quang Việt – tuyên bố đơn phương kế thừa . Và nếu thế thì chúng ta không cần phải mất công bàn về tình huống này khi nó không tồn tại trong ngữ cảnh xung quanh  câu chuyện chúng ta đang bàn liên quan đến cái Công hàm PVĐ – khi mà Nhà nước không muốn thoát ra khỏi cái công hàm tai hại đó thì thôi chứ  không đời nào dại gì mà lại đưa ra một tuyên bố đơn phương kế thừa nó.

 3.  Công ước 1978 có thể được áp dụng hồi tố với điều kiện nào?

Như được đề cập trong trang đầu tiên của nó, Công ước này được ban hành tại Vienna vào ngày 23 tháng 8  năm 1978, có hiệu lực từ ngày 06 tháng 11 năm 1996. Tuy nhiên, theo phân tích của các tác giả thì với trường hợp CHXHCNVN ra đời trước đó vào năm 1976, Công ước có thể “được áp dụng mềm dẻo” “tùy theo vấn đề và thỏa thuận của các quốc gia” .

Để chứng minh cho sự  “áp dụng mềm dẻo” này, các tác giả dẫn ra Điều 7.3 của Công ước như sau:

Article 7.3 “A successor State may at the time of signing or of expressing its consent to be bound by the present Convention make a declaration that it will apply the provision of the Convention provisionally in respect of its own succession of States which has occurred before the entry into force of the Convention in relation to any other signatory or contracting State which makes a declaration accepting the declaration of the successor States;...”

Người viết bài này tạm dịch (với văn phong hơi khác với cách dịch của các tác giả bài gốc nhưng vẫn đảm bảo không khác về nội dung) như sau:

Điều 7.3 “Tại thời điểm phê chuẩn (Công ước này) hay bày tỏ sự đồng ý bị ràng buộc bởi Công ước này, Quốc gia kế tục có thể đưa ra một tuyên bố rằng (nó) sẽ áp dụng tạm thời các điều khoản trong Công ước liên quan đến việc kế tục Quốc gia của chính nó đã xảy ra trước khi Công ước có hiệu lực liên quan đến bất cứ Quốc gia nào khác đã phê chuẩn hay giao ước phê chuẩn mà chính các Quốc gia này cũng đã ra tuyên bố chấp nhận tuyên bố của Quốc gia kế tục.”

Căn cứ theo Điều 7.3 ở trên thì để tránh tác hại của Công hàm PVĐ (với giả thiết rằng Công hàm ấy cũng được coi là một loại “Hiệp ước”), CHXHCNVN có thể quyết định phê chuẩn Công ước vào bất cứ lúc nào và đồng thời ra tuyên bố  sẽ tạm thời áp dụng các điều khoản của Công ước nhưng với điều kiện quốc gia liên quan đến chuyện này là Trung Quốc cũng phải phê chuẩn hay giao ước phê chuẩn và cũng phải có tuyên bố chấp nhận tuyên bố này của Việt Nam thì việc áp dụng hồi tố này mới có hiệu lực. Điều kiện này có lẽ không bao giờ Việt Nam vượt qua nổi vì Trung Quốc chẳng dại gì mà lại đưa ra một tuyên bố như thế.

Các tác giả Tạ Văn Tài và Vũ Quang Việt đã để ý đến điều kiện này nhưng lại suy đoán rằng điều kiện này (tức là điều kiện bên đối tác phải ra tuyên bố chấp nhận) có thể là chỉ “nhằm giải quyết các hiệp ước không liên quan đến lãnh thổ” trong khi  “Công ước bao trùm cả vấn đề không liên quan đến lãnh thổ như tài sản, nợ, v.v.”  Nhưng đây có lẽ chỉ là suy đoán chủ quan của các tác giả, e rằng chưa chắc đã phản ánh đúng ý định của những người soạn thảo ra Công ước này.

2 Responses to Công ước Vienna 1978 và Công hàm Phạm Văn Đồng – Đôi điều bàn thêm cùng các tác giả Tạ Văn Tài và Vũ Quang Việt

  1. Nguyễn Hữu Quý says:

    Cảm ơn bác, HH, một ý kiến hay, chắc là bên BVN và các nơi cần sẽ làm tài liệu tham khảo quý giá.

  2. Pingback: Giá trị pháp lý công hàm Phạm Văn Đồng theo luật pháp quốc tế và cơ hội ngàn vàng để Việt Nam xác quyết chủ quyền trên hai nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa | Hahien's Blog

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this: