Bài học của chiến tranh thế giới thứ II – Kẻ đốt lửa cuối cùng sẽ chết cháy!

Hà Hiển

Hôm nay ngày 9/5, kỷ niệm 65 năm ngày kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ II bằng thất bại thảm hại của nước Đức Quốc xã. Đây là  bài học cho bất kỳ kẻ nào còn có ý định gây chiến nhằm thay đổi trật tự thế giới trừ khi kẻ đó muốn là “kẻ đốt đến”, muốn ghi tên mình vào lịch sử như là những kẻ cuối cùng phải nhận lấy cái chết nhục nhã nhất và bị chính nhân dân nước mình trong thời đại văn minh này nguyền rủa như Hitle.

Vì thế những “học giả’  vô công rồi nghề nhưng lại loạn chữ để ngồi nghĩ ra những thứ đại loại  như “Kịch bản Huntington” (*) hoặc bất kỳ 1 “kịch bản” nào khác về 1 cuộc chiến tranh thế giới thứ 3 có lẽ cũng muốn tên mình trở thành nổi tiếng bởi sự ngu xuẩn mang tầm cỡ quốc tế vượt xa sự ngu xuẩn ở cấp độ quốc gia kiểu “Đỗ Ngọc Bích”!

Trong thời đại ngày nay, nếu có chiến tranh thế giới thứ 3 thì gần như chắc chắn vũ khí hạt nhân sẽ được dùng đến và điều này đồng nghĩa với việc cả nước gây chiến cũng bị hủy diệt. Không có kẻ nào giành thắng lợi tuyệt đối trong 1 cuộc chiến như vậy mà cả nhân loại sẽ thua tuyệt đối. Tất nhiên nguy cơ này vẫn còn dù chỉ với xác suất 1% vì trong nhân loại vẫn còn 1% những kẻ điên rồ muốn tự sát. Còn nếu có những kẻ gây chiến chỉ nghĩ đến bản thân chúng thì chúng cũng đừng ảo tưởng rằng chúng chỉ việc hy sinh hàng triệu nhân dân nước chúng còn chúng thì sẽ an toàn ngồi rung đùi trong các boongke chống bom hạt nhân. Chúng có chui xuống cống thì cũng không thoát khỏi cái chết! Cái chết nhục nhã của  Hitle và những tên quốc xã đầu sỏ khác là một bài học nhãn tiền!

Nhưng chẳng lẽ nhân loại văn minh bây giờ lại chịu bị hủy diệt và chết theo 1 kẻ mất trí giống như Hitle?

Vì vậy trong tương lai nếu có chiến tranh, rất nhiều khả năng vẫn chỉ là xung đột giữa các nước bằng chiến tranh quy ước để giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ, giải quyết các “mối hận” riêng rẽ (như trường hợp xung đột Nga – Grudia) vào thời điểm mà kẻ gây chiến thấy thuận lợi và với cách thức tiến hành sao cho tránh đến mức thấp nhất việc “quốc tế hóa”, nhất là sự can thiệp bằng quân sự của các nước khác.

Xin được trở lại vấn đề cụ thể được nhiều người quan tâm là quan hệ Việt – Trung.  Một cuộc chiến tranh quy ước như vậy nếu xảy ra giữa VN và TQ thì chắc chắn VN sẽ bị thiệt hại nặng hơn về nhân mạng, và có thể thua về quân sự trong thời gian đầu nhưng thắng lợi cuối cùng không thuộc về TQ cả về quân sự lẫn chính trị, cả về đạo lý và văn hóa. Lịch sử hàng nghìn năm quan hệ Việt – Trung và cuộc chiến gần đây nhất xảy ra năm 1979 mà mỗi bên đều đã dạy cho bên kia 1 bài học là những minh chứng rõ ràng nhất cho điều này. Việt Nam khác với Grudia. Một cuộc chiến tranh như vậy cũng sẽ làm TQ suy yếu và là cơ hội cho các cường quốc khác.

Theo 1 bài viết trên  boxitvn,   một số trang mạng chính thống và không chính thống của Trung Quốc đang tuyên truyền 1 cách vô trách nhiệm và điên rồ về 1 cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Trung Quốc. Tôi không tin là các nhà lãnh đạo có thừa thông minh như lãnh đạo TQ lại  nghe theo những kịch bản xui dại 1 cách ngu xuẩn như vậy! Nhưng cũng có thể chính vì các nhà lãnh dạo TQ thừa thông minh nên họ đang thực hiện 1 chính sách chơi bài ngửa là không ngừng gia tăng áp lực của họ chủ yếu trên Biển Đông theo chiến lược “cái gậy và củ cà rốt”, trong đó “gậy” được dùng cho các… ngư dân VN đang hàng ngày phải lo kiếm ăn trên các ngư trường truyền thống của mình, còn “cà rốt” là “16 chữ vàng” hay “4 tốt” gì đó thì họ giơ ra để nhử những người đang nắm quyền điều hành đất nước, kèm theo việc “đánh võ mồm” kiểu chiến tranh tâm lý trên cả các kênh chính thống và không chính thống. Mục đích khá lợi hại của kiểu “diến biến” chiến tranh chẳng ra chiến tranh, hòa bình chẳng phải hòa bình này là lấn dần từng bước bằng cách làm làm suy yếu VN cả từ bên trong và bên ngoài với chi phí bỏ ra là không đáng kể.  Nhưng liệu cái trò này có tạo ra hiệu quả như ý muốn hay lại tạo ra thêm những phản ứng “tự diễn biến” chết người nằm ngoài sự tính toán của những kẻ đầu têu ra cái trò đó thì xin… để hồi sau sẽ rõ.

___________________________________________________________________________________________________

(*) Đây là nội dung bài viết này:

Kịch bản của Huntington (Cho một Thế chiến thứ 3, có liên quan đến Việt Nam)

Một cuộc chiến tranh toàn cầu với sự tham gia của các quốc gia nòng cốt chính yếu trong các nền văn hoá lớn trên thế giới là điều không dễ xảy ra, nhưng là điều có thể. Như đã dẫn giải, một cuộc chiến tranh thế giới mới có thể bắt đầu bằng sự leo thang xung đột sắc tộc giữa các nhóm trong các nền văn hoá. Dễ xảy ra nhất là có sự tham gia của một bên theo đạo Islam và bên kia là không thuộc Islam. Có nghĩa là các quốc gia nòng cốt theo đạo Islam sẽ ra tay cứu giúp những người anh em đồng đạo của mình.

Họ có thể bỏ qua và không can dự quá sâu nếu như những lợi ích thứ yếu ràng buộc.  Sự dịch chuyển cán cân quyền lực giữa các nền văn hoá và các nước nòng cốt của nó chính là nguy cơ lớn nhất của chiến tranh giữa các nền văn hoá.

Nếu sự lớn mạnh của Trung Quốc tiếp tục cộng với sự tự tin là “vai kép chính trong lịch sử loài người”, nó sẽ là gánh nặng thực sự cho trật tự quốc tế vào đầu thế kỷ 21. Trung Quốc lớn mạnh hơn với ảnh hưởng sâu rộng hơn ở Đông Á và Đông Nam Á sẽ đối kháng với quyền lợi của Hoa Kỳ.

Kịch bản nào cho một cuộc chiến xung đột quyền lợi giữa Mỹ và Trung Quốc?

Giả thiết chúng ta đang ở năm 2010. Hai nước Triều Tiên đã thống nhất, quân đội Mỹ đã rút khỏi bán đảo Triều Tiên. Sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Nhật Bản cũng giảm đáng kể. Đài loan và Hoa lục cũng đạt được một thoả thuận, trong đó đảm bảo cho  Đài Loan được phần lớn sự tự chủ của mình trên thực tế, nhưng Đài Loan phải công nhận chính thức quyền chủ quyền của Bắc Kinh. Ngoài ra, với sự giúp đỡ của Trung Quốc, Đài Loan được trở thành thành viên chính thức tại Liên hợp quốc, giống trường hợp của Ucraina và Belorussia hồi năm 1946.

Việc khai thác dầu tại Biển Đông được tiến hành gấp rút, đa phần dưới sự bảo trợ của Trung Quốc, nhưng trên một số vùng có sự kiểm soát của Việt Nam được các công ty của Mỹ triển khai.

Trung quốc với sự hăng hái tự tin về thực lực của mình đã ra tuyên bố quyền kiểm soát toàn bộ biển Nam Hải (Biển Đông), điều mà họ xưa nay vẫn yêu sách. Việt Nam bất bình dẫn đến hải chiến giữa tàu Trung Quốc và tàu Việt Nam.

Trung quốc quyết tâm trả thù cho thất bại tại cuộc chiến biên giới 1979, đã cho quân tiến vào Việt Nam. Việt Nam yêu cầu sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Trung Quốc cảnh báo Mỹ không nên can thiệp, Nhật Bản và các quốc gia châu Á khác tỏ ra lưỡng lự. Hoa kỳ tuyên bố phản đối việc chiếm đóng Việt Nam của Trung Quốc, kêu gọi trừng phạt kinh tế đối với Trung Quốc và gửi một trong số hạm đội tàu sân bay còn lại ít ỏi của mình vào vùng biển Nam hải (Biển Đông).

Trung quốc chỉ trích hành động đó là vi phạm hải phận của Trung Quốc và không kích hạm đội Mỹ. Những cố gắng của Tổng thư ký Liên hơp quốc và Thủ tướng Nhật bản cho một cuộc ngừng bắn đều không đạt kết quả. Chiến tranh lan sang các vùng khác ở Đông Á.

Nhật bản ra lệnh cấm Mỹ sử dụng căn cứ quân sự trên đất Nhật. Mỹ phớt lờ lệnh cấm. Nhật Bản tuyên bố giữ thái độ trung lập và phong toả các căn cứ quân sự. Không quân và tàu ngầm Trung quốc từ Đài Loan và Hoa lục gây cho tàu chiến và cơ sở quân sự của Mỹ ở Đông Á nhiều thiệt hại. Tiếp đó Trung quốc kéo quân vào Hà nội và chiếm đóng phần lớn Việt nam.

Mặc dù cả Trung Quốc lẫn Hoa kỳ đều đang nắm giữ nhiều tên lửa xuyên lục địa mang đầu đạn hạt nhân nhưng cả hai đều ngầm giữ không sử dụng trong thời gian đầu của cuộc chiến.

Lo sợ trước một cuộc tấn công hạt nhân hiển hiện ở cả hai phía, nhưng căng thẳng hơn cả là phía bên Hoa Kỳ. Điều đó tạo ra mối quan ngại trong những người dân Mỹ, tại sao họ phải chịu đựng nguy cơ này. Nếu Trung Quốc muốn chiếm Nam Hải, Việt Nam hay toàn bộ Đông Nam Á thì liên quan gì đến họ? Đặc biệt là sự phản đối của các bang tây nam, nơi có nhiều người nói tiếng Tây Ban Nha. Với khẩu hiệu “Cuộc chiến này không phải của chúng ta” dân chúng và chính quyền các bang này muốn tránh bị lôi vào cuộc chiến giống như đã xảy ra tại tiểu bang New England năm 1812[1]…

… Trong khi đó chiến tranh đã bắt đầu gây ảnh hưởng đến các nước lớn của các nền văn hoá khác. Lợi dụng cơ hội Trung Quốc đang bận rộn với Đông Nam Á, Ấn Độ tấn công vào Pakistan trên diện rộng mục đích để dọn sạch kho vũ khí nguyên tử cũng như vũ khí thông thường của nước này. Thoạt đầu Ấn Độ không gặp trở ngai nào, cho đến khi có liên minh quân sự giữa Pakistan, Iran và Trung Quốc. Iran trợ giúp Pakistan với lượng quân sự khí tài hiện đại…

… Tất cả các cuộc chiến đều liên quan đến dầu mỏ. Mặc dù đầu tư rất nhiều vào năng lượng hạt nhân, Nhật bản còn vẫn phụ thuộc nhiều vào dầu mỏ nhập khẩu, điều đó làm cho Nhật thấy cần thiết phải hợp tác với Trung Quốc trong việc nhập dầu mỏ từ vùng Vịnh Ba tư, Indonesia và Biển Đông.

Cuộc chiến tiếp tục với qui mô lớn hơn. Các quốc gia khối Ả-rập ngày càng bị rơi vào vòng kiểm toả của lực lượng cuồng tín. Nguồn dầu mỏ từ vùng Vịnh cho phương Tây bị cắt, Phương Tây ngày càng bị phụ thuộc nhiên liệu từ Nga, Caucasus và miền Trung Á. Phương Tây muốn lôi kéo Nga về phía mình và buộc phải ủng hộ Nga mở rộng ảnh hưởng xuống các nước Islam ở miền nam.

Đồng thời Mỹ cố gắng lôi kéo sự trợ giúp toàn bộ của đồng minh Âu châu. Trên thực tế Tây Âu chỉ có cử chỉ ủng hộ về ngoại giao và kinh tế, ngoài ra thì trì hoãn về quân sự.

Trung quốc và Iran lo sợ khối Tây Âu cuối cùng sẽ đứng về phía Mỹ, giống như Mỹ đã từng cứu giúp Anh, Pháp thời Thế chiến thứ II. Để ngăn chặn điều này, họ bí mật chuyển dàn tên lửa tầm trung chứa đầu đạn hạt nhân đến Bosnia và Algeria và cảnh báo Tây Âu về việc tham gia cuộc chiến…

Một cuộc chiến toàn cầu gồm một bên là Hoa kỳ, châu Âu, Nga và Ấn độ và bên kia là Trung Quốc, Nhật Bản và nhiều nước Hồi giáo. Kết cục sẽ ra sao?

Cả hai bên đều có trong tay rất nhiều vũ khí hạt nhân, ngay cả khi giả thuyết là sẽ không được sử dụng một tí tẹo nào thì một điều rõ ràng, các quốc gia chủ chốt sẽ bị tàn phá nặng nề.

Giả sử là cả hai bên biết kiềm chế, các bên tham chiến đã mệt mỏi đi đến một thoả thuận đình chiến, thì nó cũng không giải quyết được vấn đề chủ chốt, đó là đòi hỏi bá quyền của Trung quốc ở Đông Á. Nếu không phương Tây phải cố gắng khuất phục Trung quốc bằng chiến tranh qui ước. Liên minh quân sự với Nhật giúp cho Trung Quốc có được một hải tuyến phòng thủ ngăn chặn Mỹ tấn công vào miền duyên hải nơi có khu công nghiệp và đông dân. Lựa chọn khác là tấn công Trung Quốc từ phía tây.

Cuộc chiến của Nga với Trung Quốc là lý do để NATO kết nạp Nga vào khối quân sự và trợ giúp Nga chống lại cuộc tấn công của Trung Quốc vào Serbia, cũng như đảm bảo sự kiểm soát của Nga đối với các nước Islam giàu nhiên liệu vùng Trung Á. Giúp đỡ quân nổi dậy Tây Tạng, Uighuri và Mông cổ chống lại sự thống trị của Trung Quốc. Hỗ trợ chuyển quân đội của Nga từ phía tây nhằm hướng đông sang Siberi, từ đó đánh trận quan trọng vượt Vạn Lý Trường Thành vào Bắc Kinh vào sâu tận Trung Nguyên.

Bất cứ kết cục nào của cuộc chiến toàn cầu giữa các nền văn hoá này có được, tàn phá lẫn nhau bằng vũ khí nguyên tử, đình chiến vì mệt mỏi hay ngay cả khi quân đội Nga và phương Tây diễu binh trên quảng trường Thiên An Môn đi nữa thì hậu quả lâu dài chắc chắn sẽ rộng khắp. Tổn thất kinh tế, nhân mạng và sức mạnh quân sự nặng nề của các bên là không tránh khỏi.

Hậu quả là trung tâm quyền lực của thế giới theo thời gian chuyển dịch từ đông sang tây, và lại từ tây sang đông, nay lại từ bắc xuống nam. Kẻ hưởng lợi chính từ cuộc chiến này là những ai đứng ngoài. Trong khi phương Tây, Nga, Trung Quốc và Nhật bản bị tàn phá các mức độ khác nhau thì Ấn Độ, mặc dù có tham dự nhưng tránh được sự tàn phá, nay có thể rảnh tay để tái thiết lại thế giới theo trật tự của Ấn độ giáo.

Dân chúng Mỹ đổ lỗi cho sự tụt hậu là do giới bảo thủ Tin lành da trắng, dẫn tới việc dân Mỹ gốc Tây Ban Nha lên nắm quyền với lời hứa được nhận sự trợ giúp của các nước Mỹ-Latin. Một chiến dịch tương tự Kế hoạch Marshall[²] từ các nước  Nam Mỹ.  Các quốc gia mới nổi này đã không tham gia vào cuộc chiến.

Hoa Kỳ nhìn nhận sự can thiệp như thế là cần thiết, để bảo vệ luật pháp quốc tế, để chống lại một cuộc xâm lược, để bảo vệ tự do hàng hải, để đảm bảo quyền tiếp cận dầu mỏ của Mỹ ở Biển Đông và chống lại sự thống trị của một thế lực duy nhất tại Đông Á.

Đối với Trung Quốc lại là việc không thể chấp nhận được. Đó là âm mưu mà các nước phương Tây luôn ngạo mạn gây sức ép và muốn làm mất mặt Trung Quốc. Khiêu khích và chống lại vai trò chính đáng của Trung Quốc trên sân chơi chính trị ngay trong vùng ảnh hưởng đã được thừa nhận.

Chiến tranh giữa các nền văn hoá là điều cần tránh trong thời đại tới, đặc biệt các nước chính yếu không nên can dự vào các xung đột giữa các nền văn hoá. Đó là một sự thật khó chấp nhận, nhất là đối với những quốc gia như Hoa Kỳ. Nguyên tắc của sự đa dạng hoá, trong đó các nước chính yếu phải kiềm chế tránh can dự vào các xung đột tại các nền văn hoá khác là điều kiện tiên quyết cho một nền hoà bình trong một thế giới đa dạng và đa cực.

Điều kiện thứ hai cần có là nguyên tắc cùng hoà giải, trong đó có việc thỏa thuận giữa các nước nòng cốt để giảm thiểu hay kết thúc các cuộc xung đột sắc tộc giữa các nước hay các nhóm thiểu số trong các nền văn hoá.

Chấp nhận những nguyên tắc này cùng với một thế giới bình đẳng về nguồn gốc văn hoá là điều không dễ chấp nhận. Điều đó đúng với cả các nước phương Tây lẫn các nước thuộc nền văn hoá khác, những thế lực đang muốn cùng phương Tây chia sẻ hay thậm chí độc quyền vai trò thống trị.

Nguồn:  anhbasam

One Response to Bài học của chiến tranh thế giới thứ II – Kẻ đốt lửa cuối cùng sẽ chết cháy!

  1. Pingback: Nếu họ có văn hóa thì tôi sẽ theo « Hahien's Blog

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this: